Lịch sử, ý nghĩa ngày Hiến chương nhà giáo Việt Nam 20/11

Ngày 20/11 hàng năm được coi là ngày hội của ngành giáo dục và là ngày ‘tôn sư trọng đạo’ nhằm mục đích tôn vinh những nhà giáo Việt Nam.

Mỗi một nghề nghiệp trong xã hội hầu như đều có một ngày được coi là ngày truyền thống ngành. Trong đó, ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 có một lịch sử khá đặc biệt vừa có tính chất quốc tế, vừa có tính chất dân tộc, vừa mang đặc trưng của các nhà giáo, của ngành giáo dục nhưng cũng là ngày hội của toàn dân.

Lịch sử hình thành

Tháng 7/1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).

Lịch sử, ý nghĩa ngày Hiến chương nhà giáo Việt Nam 20/11
Ngày Nhà giáo Việt Nam có lịch sử hình thành và ý
nghĩa vô cùng sâu sắc (Ảnh minh họa)

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương.

Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953 (hội nghị có 57 nước tham dự), đã quyết định trong cuộc họp của FISE từ 26 đến 30/8/1957 tại Warszawa, lấy ngày 20/11/1958 là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”.

Khi Việt Nam thống nhất, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam. Vào ngày 28/9/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20/11 hằng năm là ngày lễ mang tên "Ngày nhà giáo Việt Nam".

Như vậy ngày 20/11/1982 là ngày lễ kỷ niệm Nhà giáo Việt Nam được tổ chức trọng thể đầu tiên của cả nước ta.

Ý nghĩa sâu sắc

Trên bước đường trưởng thành của mỗi người, chắc hẳn ai cũng mang trong mình một tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với những người thầy cô giáo, đặc biệt là những người có ảnh hưởng đến suy nghĩ và dìu dắt chúng ta thành người.

Lịch sử, ý nghĩa ngày Hiến chương nhà giáo Việt Nam 20/11
Trong lòng mỗi người học trò đều biết ơn những
người thầy đã dìu đắt mình (Ảnh minh họa)

Vì vậy, cứ mỗi khi gần đến dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam, trong tim mỗi người lại xuyến xao nhớ lại về người thầy trong tâm khảm của mình.

Trong những ngày này, tại các cơ sở giáo dục trên cả nước đều tổ chức các chương trình nhằm tôn vinh những nhà giáo, những người thầy, cô. Đông đảo học trò thể hiện lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô của mình bằng những lời ca, tiếng hát và vô vàn lời chúc tốt đẹp.

Đây cũng là một dịp để những người đã trải qua thời học sinh có dịp quay trở lại thăm trường xưa, thăm những thầy cô giáo cũ và ôn lại những kỷ niệm đẹp một thời đã qua.

Bởi vậy mà không tự nhiên lại có câu nói: “Nghề giáo là những nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”…

nguồn sưu tầm Internet

Ý nghĩa ngày giỗ tổ Hùng Vương

Ngày giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là "Lễ hội Đền Hùng" là một ngày lễ của Việt Nam, là ngày để tất cả mọi người cùng về đất nước Việt Nam này để tận hưởng được giá trị của sự bình yên và sự hi sinh của những đồng bào có công cùng các Vua Hùng dựng nước.

     Lễ được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc nhằm mục đích tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng.

Hình vẽ vua Hùng

     Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đã xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng để tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

     Ngày giỗ tổ Hùng Vương đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam thể hiện rõ đạo lý "uống nước nhớ nguồn" hay "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" như một tinh thần văn hóa Việt Nam. Ngày này cũng được chính phủ Việt Nam cho phép những người lao động được nghỉ lễ kể từ năm 2007. Nhân dân Việt Nam có câu lưu truyền từ xa xưa:


         ''Dù ai đi ngược về xuôi
           Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.''

     Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, để hòa cùng lòng tưởng nhớ của triệu triệu con đất Việt hướng về tổ tiên dựng nước, kỳ sĩ Phong Thần khắp nơi trong Tam Giới cũng chuẩn bị những chiếc bánh chưng, bánh tét để tỏ lòng thành kính hướng về các bậc tổ tiên.

    Tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi là vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. 

     Bờ cõi nước Xích Quỉ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải. Mộ phần Kinh Dương Vương, hiện còn tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh. 
Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Ðộng Ðình sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi Vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân, lấy con gái Ðế Lai là bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con là tổ tiên của người Bách Việt.

     Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: "Ta là giống Rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó"  Bèn từ biệt , chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ:
1.     Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú )
2.     Châu Diên (Sơn Tây).
3.     Phúc Lộc (Sơn Tây ) .
4.     Tân Hưng (Hưng Hoá-Tuyên Quang).
5.     Vũ Ðịnh (Thái Nguyên-Cao Bằng) .
6.     Vũ Ninh (Bắc Ninh).
7.     Lục Hải (Lạng Sơn).
8.     Ninh Hải (Quảng Yên).
9.     Dương Tuyền (Hải Dương).
10. Giao chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình).
11. Cửu Chân (Thanh Hoá).
12. Hoài Hoan (Nghệ An).
13. Cửu Ðức (Hà Tĩnh).
14. Việt Thường (Quảng Bình-Quảng Trị).
15.  Bình Văn ( ? )

     Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, các quan nhỏ gọi là Bồ chính Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quí mão (285 trước CN) thì bị nhà Thục lấy mất nước. 

    Từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, tài liệu bị thất lạc qua chiến tranh ? "thương hải biến vi tang điền".Từ ngày lập quốc bị nhiều phen ngoại bang đô hộ, sử sách bị đốt, thất lạc muốn tra cứu rất khó.

    Nhưng không thể nghi ngờ được nguồn gốc văn minh Việt tộc.Truyền thuyết Hùng Vương đã ghi lại từ cuối thế kỷ thứ 14. Sử quan Ngô Sĩ Liên ( ?- 1442) biên soạn Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư hoàn thành năm 1479 chính thức vinh danh các đời vua Hùng Vương trong Quốc sử, ghi nhận các đời vua Hùng Vương có công dựng nước .

    Cũng từ đời Lê đã soạn thảo luật Hồng Ðức (1470-1497) bộ luật này là sự hoàn chỉnh các luật căn bản từ thời dựng nước qua các căn bản chính như : Ðức trị, Nhân trị và Pháp trị mãi cho đến chương trình Luật trước năm 1975 còn dùng luật này để đối chiếu. Ðó là bộ Quốc Triều Hình Luật nhà Hậu Lê. Ðược soạn thảo từ đời Lê Lợi (1428) mãi đến đời Lê Thánh Tôn (1460-1468) sau đó là Hồng Ðức (1470-1497) 

    Như vậy về luật pháp nước ta đã có những văn bản trên bình diện quốc gia, có căn bản về Nhân bản và Nhân đạo trước đó hơn 300 năm?. Thế giới Tây phương văn minh tiến bộ nhưng luật Dân quyền Anh Quốc 1689, Tuyên ngôn nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 và luật Dân Quyền Hoa Kỳ 1791... 

    Nhiều Sử Gia đã nghi ngờ về Họ Hồng Bàng không có thật? Sử quan Ngô sĩ Liên đã đưa chuyện thần thoại hoang đường vào chính sử. (như chuyện Phù Ðổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thuỷ Tinh..v. v.).

    Nếu chúng ta xét theo sự phát triển của khoa học để soi lại dấu chân lịch sử lắm nhiều hoài nghi về nguồn gốc văn minh của thời đồ đá. Con người vốn do Thượng Ðế tạo dựng không thể sinh ra từ trứng? Nếu lấy khoa học để xét lại những truyền thuyết những chuyện hoang đường.. thì lợi bất cập hại, làm mất cái hay cái đẹp của huyền sử mang nhiều ý nghiã đẹp một niềm tự hào của tổ tiên .

     Dù là huyền thọai nhưng bao gồm triết lý sống làm nền tảng từ thời sơ khai trong tinh thần và tâm linh, luôn là căn bản trong tình đoàn kết và tự hào dân tộc qua nhiều thế hệ.. Tổ tiên ta đã hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước tồn tại đến ngày nay Ðiạ lý nước Việt nam "biên giới từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau ". 
      Thành lập nước Văn Lang của các Vua Hùng giai đoạn còn phôi thai đầu tiên của Việt Nam. Dù mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người, từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng bào ruột thịt, bước đầu hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ gìn bản làng, đất nước. Xã hội Việt tộc nguyên thủy đã kết hợp với nhau bằng Tâm cư xử với nhau bằng Ðức. 

    Ðền Hùng Vương ở Lâm Thao tỉnh Phú Thọ xây từ 250 năm trước tây lịch. Thuộc thời Thục An Dương Vương xây để tưởng nhớ công đức của các thế hệ dựng đất nước Văn Lang. Từ đó đến nay hơn 2251 năm, lịch sử đất nước ta trải qua 3 lần Bắc thuộc 

Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước công nguyên – 39 sau công nguyên
Bắc thuộc lần thứ hai (40-43)
Bắc thuộc lần thứ Ba (603-939)

Quốc Hiệu
·        Ðại Cồ Việt 968 (mậu thìn)- Ðinh Tiên Hoàng
·        Ðại Việt 1054(giáp ngọ)- Lý Thánh Tông
·        Ðại Ngu 1400(canh thìn)- Hồ Quý Ly
·        Ðại Việt 1428(mậu thân)- Lê Thái Tổ
·        Việt Nam 1804 (giáp tý)- Gia Long
·        Ðại Nam 1838 (mậu tuất)- Minh mạng
·       Việt Nam 1945(ất dậu) Bảo Ðại (1)
 
    Hàng năm tưởng nhớ Tổ Tiên người dựng nước, toàn dân Việt Nam làm Giỗ tổ, nhằm mùng 10 tháng 3 Âm Lịch, thường gọi là Hội Ðền Hùng hay ngày Giỗ tổ Hùng Vương, một lễ trọng đại  Việt Nam vì bao hàm Tổ Quốc mà luôn cả Tổ Tiên, ca dao truyền tụng trong Dân gian.
Tháng Giêng ăn tết ở nhà
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba
 
     Giổ Tổ Hùng Vương không phải chỉ đề cao niềm tự hào dân tộc, còn nhắc nhở chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo bản sắc dân tộc, và chúng ta phải làm gì và có thể làm được những gì ích lợi cho cộng đồng, cho dân tộc, tổ tiên có nếp sống cho gia đình và dòng tộc, quây quần bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Gia đình là môi trường trưởng dưỡng thích hợp để tình thương luôn khởi sắc, và phát triển hồn nhiên trong sáng nếp sống bắt nguồn trong tình yêu gia đình, để biết ơn thành kính đối với ông bà, cha mẹ, Phong tục thờ cúng ông bà khởi đầu không phải do ý thức tín ngưỡng như các tôn giáo khác đã du nhập vào Việt Nam.
Công cha như núií Thái Sơn
Nghiã mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
   
    Tổ tiên những người có công dựng nước thì gọi là Quốc Tổ Hùng Vương, không phải niên hiệu của một triều đại. Vì thế giổ Tổ là một truyền thống bản sắc của dân tộc Việt Nam, không phải là cuộc trình diễn, không mang tính chất tôn giáo, mê tín dị đoan. Nhưng nó phát xuất từ tận đáy lòng sự thành kính đối với Quốc Tổ Việt Nam, với hồn thiên sông núi... 

                                          
 Nguồn: Internet
                                                                                                               Sưu Tầm

Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930

 

(ĐCSVN)-Cuối thế kỷ XIX, sau khi bình định xong Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay thực thi các chính sách thực dân hà khắc, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn dân tộc diễn ra hết sức gay gắt, hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau liên tiếp nổ ra nhằm giải quyết mâu thuẫn chủ yếu đó. Tiêu biểu là phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu; phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo...Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc.
Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920 Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác- Lê nin; đây không chỉ là bước ngoặt đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Từ nhận thức đó Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam, Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lê nin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác; đưa phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản.
Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở số nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội, gồm có Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Văn Tuân và Dương Hạc Đính.
Ngày 1-5-1929, tại Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hương Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra đề nghị thành lập Đảng Cộng sản. Đề nghị dó không được chấp nhận, trở về nước, ngày 17-6-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929 An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu DDCSD); Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại biểu (ANCSĐ). Đại biểu ĐDCSLĐ không đến kịp. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 trở thành Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm cuả sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Đó là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta./.

                                                                                             theo dangcongsan.vn

Lịch sử ngày 20/10-Ngày Phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.

Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai...

Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:

- Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.

- Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.

- Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.

- Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.

- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỉ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là "Ngày Phụ nữ Việt Nam".

Kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2 tháng 9 (1945-2014)

 
Hàng năm vào những ngày tháng Tám và đầu tháng chín, mỗi người dân Việt nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hay ở xa Tổ quốc đều bồi hồi nhớ lại cuộc Cách mạng mùa thu năm 1945 và Quốc khánh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 2 tháng 9 với niềm tự hào sâu sắc nhất.
 
Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước Việt Nam diễn ra từ ngày 15 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945 và thành công ở Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 đã đưa nước Việt Nam đi lên một vị trí mới, một tầm vóc mới, một thế đứng mới. Đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạnh dân tộc dân chủ nhân dân điển hình này: “ Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và nhân dân những dân tộc bị áp bức những nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần đầu tiên trong lịch sử Cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc “
 
Cuộc mit tinh phát động khởi nghĩa dành chính quyền tại
nhà hát lớn Hà Nội ngày 19/8/1945
 
 Trong quá trình Cách mạng thế giới chưa có một cuộc Cách mạng nào mở ra ngoạn mục đến như thế. Mọi diễn biến đều ăn khớp nhịp nhàng như một bản thiết kế đã vạch sẵn. Cả một dân tộc nổi dậy vào thời cơ tốt nhất, giành thắng lợi nhanh nhất; Hàng chục triệu quần chúng từ Nam ra Bắc không chịu nổi ách thống trị, áp bức tàn bạo của kẻ thù, một lòng một dạ đi theo đội tiên phong nhất tề nổi dậy như vũ bão, tạo ra sự phát triển nhảy vọt của Cách mạng cả về chính trị lẫn quân sự, trên cả hai phương tiện thế và lực…
 
Cách mạng tháng 8 thành công xem bề ngoài tưởng như tự phát nhưng thực sự là cuộc khởi nghĩa có trình độ tự giác cao. Cách mạng tháng 8 thành công không những thu hút đông đảo quần chúng công, nông mà còn lôi cuốn các tầng lớp khác như: tiểu tư sản và một bộ phận giai cấp tư sản ở thành thị, phú nông và một số địa chủ yêu nước ở nông thôn, nhiều nhân sĩ, trí thức thuộc các tầng lớp trên tán thành Cách mạng hoặc ít ra cũng trung lập có lợi cho Cách mạng.
 
Cách mạng tháng 8 là ngày hội của quần chúng là cả một quá trình chuẩn bị công phu của Cách mạng và sự lãnh đạo tài tình của Đảng và bác Hồ kính yêu. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên một Nhà nước công nông thành lập ở Việt Nam.
 
Mặc dù vẫn còn những tiếng súng gây rối của kẻ thù nhưng với khí thế sục sôi của quần chúng trong ngày thắng lợi của cách mạng tháng 8, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình- Hà Nội, trước cuộc mít tinh của hơn 50 vạn nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới về nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời: “ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”
                       
Chủ tịch Hồ Chí minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945
 
Bản tuyên ngôn độc lập là những đúc kết từ truyền thống tinh hoa, anh hùng tự cường, bất khuất của dân tộc. Đó là tiếng nói của dân tộc Việt Nam. Ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội và đã trở thành ngày Quốc khánh nước Việt nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Bên cạnh những thành tựu lớn và vận hội mới của đất nước Đảng bộ, quân và dân thành phố Vũng tàu nêu cao hơn nữa những thành tích đã đạt được trong truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; Đồng sức đồng lòng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Phấn đấu không ngừng, ra sức thi đua thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng thành phố Vũng tàu ngày càng giàu đẹp, văn minh.
 
Bài: Hoàng Yến
BBT.
theo vungtau.baria-vungtau.gov.vn

TRƯỜNG THPT QUỐC TRÍ
Địa Chỉ : 313 Nguyễn Văn Luông, P12, Q6, Tp.HCM
Điện Thoại : (08) 37515213 - 37515179
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.