Kỷ niệm 67 năm Ngày Thương binh liệt sĩ 27-7 (1947-2014)

Đền ơn người có công là cách tốt nhất giáo dục lòng yêu nước

 

(Cadn.com.vn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đền ơn đáp nghĩa người có công với nước là cách tốt nhất giáo dục lòng yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.  Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Bác Hồ đã chú trọng xây dựng và chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách về thương binh, liệt sĩ, những người có công trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tình cảm đặc biệt cho thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Bác căn dặn:  Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh". Đối với các liệt sĩ mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ,vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Cán bộ, nhân dân viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Những lời căn dặn cuối cùng của Bác đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình họ thấm đượm sâu sắc truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước, trực tiếp lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh và gia đình liệt sĩ. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước lúc đi xa, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư, tặng quà tới thương binh và gia đình liệt sĩ.

Trong giáo dục lòng yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ "ăn quả phải nhớ người trồng cây", phải chăm lo đền ơn thương binh, liệt sĩ, họ là những người vì Tổ quốc và vì hạnh phúc của nhân dân mà đã anh dũng hy sinh, cống hiến máu xương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do. Trong cuộc sống và hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất của lãnh đạo Đảng và Nhà nước luôn chăm sóc thương binh, liệt sĩ. Dù bận nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành cho thương binh, bệnh binh những tình cảm yêu thương, quý trọng vô cùng sâu nặng.

Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, sau các chiến dịch, chỉ đạo việc quân, việc nước Bác Hồ thường quan tâm chăm sóc thương bệnh binh. Đến các nơi chữa bệnh, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, Người ân cần thăm hỏi, động viên và tặng quà từ tiền lương và tiền tiết kiệm, đồ dùng cá nhân của mình để thêm phần chăm lo cho thương bệnh binh. Bác khích lệ thương binh bằng nhiều cách như nêu gương, biểu dương, khuyến khích, tặng huy hiệu của Người cho những thương binh khắc phục đau yếu, thương tật  "tàn nhưng không phế", có nghị lực vươn lên trong cuộc sống và động viên anh, chị em thương bệnh binh dù suy giảm sức khỏe mà vẫn cố gắng học tập, làm việc, cống hiến cho xã hội. Người còn căn dặn các thương bệnh binh phải khiêm nhường, phải tỏ lòng biết ơn sự chăm sóc của đồng bào, đồng chí, không được ra vẻ công thần mà cần cố gắng tự lực cánh sinh...                                                         

67 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn "Ngày thương binh" và 39 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã ra sức thực hiện Di chúc của Bác đối với thương binh, liệt sĩ và các gia đình chính sách. Trong sự nghiệp ĐỔI MỚI, Đảng và Nhà nước cũng có nhiều chính sách mới đối với thương binh, liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Trong những  chính sách về người có công của Đảng và Nhà nước thì Pháp lệnh về người có công được thực hiện đã phát huy cao độ truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", giáo dục sâu sắc lòng yêu nước, huy động các tầng lớp trong xã hội tham gia nhiều phong trào đền ơn đáp nghĩa người có công.

Quỹ đền ơn đáp nghĩa ra đời khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh người có công năm 1994 đến nay số tiền do nhân dân đóng góp lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Cùng với những chính sách của Nhà nước, Quỹ đền ơn đáp nghĩa góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống người có công. Các bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được nhận phụng dưỡng suốt đời. Hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa được xây mới. Nhiều phong trào có ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện tình cảm biết ơn vô hạn của đồng bào, chiến sĩ với thương binh như tặng sổ tiết kiệm, vườn cây "đền ơn đáp nghĩa", trở lại chiến trường xưa để tìm mộ liệt sĩ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, xây đài tưởng niệm, tổ chức các buổi lễ cầu siêu cho hương hồn các anh hùng liệt sĩ ở Quảng Trị, Côn Đảo, Phú Quốc, đường Trường Sơn, Bến Được, Củ Chi, ngã ba Đồng Lộc... đã thu hút sự quan tâm của đồng bào, lực lượng vũ trang và góp phần giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc cho toàn dân.

Vào dịp kỷ niệm  Ngày thương binh liệt sĩ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã có những việc làm tri ân người có công với những hình thức thiết thực, phù hợp hoàn cảnh các đối tượng nhằm nâng cao mức sống người có công cả vật chất và tinh thần, tình cảm.                                             

Bốn mươi lăm năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người có công, chúng ta nhận thấy rằng chính sách đối với người có công có vai trò quan trọng trong dựng nước và giữ nước. Làm tốt chính sách với người có công không chỉ là đền ơn đáp nghĩa, phát huy truyền thống, đạo lý nhân văn của dân tộc mà còn có ý nghĩa vô cùng sâu sắc là "đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta" mà Bác Hồ đã viết trong Di chúc. Sau gần 30 năm đổi mới, mặc dù chúng ta cố gắng rất nhiều thực hiện chính sách người có công nhưng cả nước vẫn còn hàng chục nghìn hộ gia đình chính sách đang sống trong những ngôi nhà tạm, đời sống hàng ngày của các gia đình này còn nhiều khó khăn,vất vả, thiếu thốn về vật chất và tinh thần.

Để thiết thực chăm lo cho những gia đình này, chúng ta cần có những việc làm hưởng ứng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là phấn đấu đưa mức sống của người có công cao hơn mức sống trung bình của xã hội, thiết thực và chủ động hưởng ứng Chương trình hành động của Bộ LĐ-TB & XH chăm sóc người có công, huy động các tầng lớp nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc  các cấp và các đoàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội ...ủng hộ, giúp đỡ để cải thiện một bước căn bản đời sống người có công, sớm phấn đấu để không còn hộ gia đình chính sách thuộc diện nghèo, hơn 90% số hộ gia đình có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình. Trong những năm tới các cấp, các địa phương cần thực hiện chủ trương rà soát lại các chính sách, chế độ đối với người có công để bổ sung, hoàn thiện các chính sách đồng thời khắc phục những sai sót trong thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước.

T.S Phạm Văn Khánh

nguồn cadn.com.vn

Tinh thần Ngày Quốc tế Lao động 1-5 với cách mạng Việt Nam




Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ XIX đã làm đảo lộn một phần xã hội Tây Âu, đưa xã hội ấy từ “đêm trường trung cổ” ra ánh sáng của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, máy móc kỹ thuật hiện đại ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và cùng với nó là sự xuất hiện của giai cấp vô sản - giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất trong lịch sử. Song máy móc càng tiên tiến thì mức lương của giai cấp công nhân càng giảm và “bất cứ lúc nào công nhân cũng thấy giai cấp tư sản coi họ là đồ vật, là tài sản của chúng, chỉ một điểm này cũng đủ làm cho công nhân trở thành kẻ thù của giai cấp tư sản”[1]. Mâu thuẫn trên lĩnh vực kinh tế dẫn đến mâu thuẫn trên lĩnh vự xã hội, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản là điều tất yếu. Vì vậy, ngay từ khi mới ra đời giai cấp công nhân đã tiến hành những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản. Những cuộc đấu tranh ban đầu diễn ra lẻ tẻ và mang tính tự phát vì mục đích kinh tế, do thiếu một lý luận cách mạng và một tổ chức tiên phong lãnh đạo nên đều thất bại. Chính sự phát triển của phong trào công nhân đặt ra đòi hỏi phải có lý luận tiên tiến dẫn đường để tổ chức, giáo dục, giác ngộ giai cấp công nhân về sứ mệnh lịch sử của mình, để vạch cho giai cấp công nhân đường lối và phương pháp cách mạng khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được đòi hỏi của phong trào công nhân lời kêu gọi “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại” làm phương châm đấu tranh cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

 

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân bất đầu từ nước Mỹ - quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới. Mỹ đã lao vào cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản với điển hình là thành phố Chi-ca-gô - trung tâm thương nghiệp của Mỹ. Nhà tư bản đã cho các guồng máy ở đây chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn công nhân bị bắt buộc làm việc mỗi ngày từ 14 đến 18 giờ, phụ nữ quần quật lao động không kém gì nam giới, nhưng đồng lương chỉ bằng ½ nam giới và suốt suốt tuần không có ngày nghỉ; trẻ em phải làm việc 12 giờ/ngày. Đây chính là nguyên nhân diễn ra phong trào bãi công của công nhân Bắc Mỹ, châu Âu bùng lên, đòi nhà tư bản phải tăng lương, giảm giờ làm với khẩu hiệu chung là “8 giờ làm việc, 9 giờ học tập, 8 giờ nghỉ ngơi trong một ngày”.

 

Tại thành phố Chi-ca-gô, ngày 1-5-1886, hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, công nhân toàn thành phố tiến hành bãi công, tổ chức mít tinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày không đến nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng nói chung của giai cấp công nhân, chính quyền tư sản rơi vào thế bị động. Ngày 3-5, hơn 6 ngàn công nhân tổ chức mít tinh, tên chủ tư bản ngoan cố không trả lời yêu sách của công nhân, cho đóng cửa nhà máy và những người bãi công phản đối, bị cảnh sát đàn áp, 9 công nhân bị giết, 50 bị thương nặng, gây chấn động thành phố. Ngày 4-5, một cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra ở quãng trường Hay-mác-két để phản kháng hành động của cảnh sát. Bọn chủ dùng thủ đoạn xảo trá cho tay chân ném một quả bom làm chết 7 cảnh sát, 4 công nhân và nhiều người bị thương. Lấy cớ đó chính quyền mở cuộc khủng bố lớn, hơn 200 người chết và bị thương, nhà tù chật ních những người tham gia đấu tranh. 

 

Vụ tàn sát đẫm máu trên gây nên chấn động lớn trong giai cấp công nhân thế giới. Ở Mỹ nhiều cuộc biểu tình lớn nổ ra tại các thành phố, lên tiếng ủng hộ yêu sách của công nhân Chi-ca-gô. Công nhân Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan… tổ chức nhiều cuộc mít tinh bày tỏ sự đồng tình với công nhân Mỹ. Ngày 1-5-1886 đã ghi một bước thắng lợi, có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp công nhân trong quá trình thống nhất đấu tranh giành quyền lợi của mình. Ngày 11-11-1887, các thủ lĩnh của cuộc đấu tranh ngày 1-5-1886 đều bị chính quyền treo cổ. Tuy vậy, chính phủ buộc phải ban hành đạo luật ngày làm 8 giờ.

 

Để biểu dương tinh thần đoàn kết của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới, ngày 14-5-1889, tại Paris nước Pháp, Đại hội quốc tế thứ II được tổ chức, dưới sự chỉ đạo của Ph.Ăngghen đã thông qua Nghị quyết lấy ngày 1-5 - ngày đấu tranh thắng lợi của công nhân Chi-ca-gô năm 1886 làm ngày Quốc tế Lao động.

 

Thực hiện nghị quyết của Quốc tế thứ II, vào ngày 1-5-1890 lần đầu tiên ngày Quốc tế lao động được kỷ niệm trên quy mô thế giới. Giai cấp công nhân ở các nước Mỹ, Ca-na-đa, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý và nhiều nước khác tiến hành bãi công, mít tinh, biểu tình. Hàng ngàn công nhân Pra-ha xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “ngày làm 8 giờ”, thể hiện tinh thần “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.

 

 

Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, Mác-Ăngghen không chỉ trang bị lý luận cách mạng cho giai cấp công nhân còn chỉ ra con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử của họ là phải có đảng tiên tiến lãnh đạo. Vì vậy, khi chủ nghĩa Mác ra đời đã được một bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân tiếp thu, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân, giáo dục, giác ngộ và tổ chức công nhân đấu tranh và trong các cuộc đấu tranh ấy, các Đảng Cộng sản đã lần lượt ra đời. Điều đó chứng tỏ, chủ nghĩa Mác ra đời đã nhanh chóng thâm nhập vào phong trào công nhân, trở thành hệ tư tưởng, vũ khí lý luận của giai cấp công nhân. Mặt khác, thông qua phong trào công nhân chủ nghĩa Mác được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện.

 

Tiếp thu, kế tục sự nghiệp cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen, người học trò xuất sắc V.I. Lênin đã vận dụng sáng tạo, phát triển học thuyết Mác-Ănghen vào điều kiện lịch sử mới ở nước Nga. Lênin cho rằng “giai cấp công nhân Nga phải nắm lấy ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản làm “cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới” và thắng lợi hoàn toàn của cách mạng hiện đại sẽ đánh dấu bước kết thúc của cách mạng dân chủ và mở đầu một cuộc đấu tranh kiên quyết cho chủ nghĩa xã hội[2]. Cuộc cách mạng Tháng Mười vĩ đại năm 1917, không chỉ đưa “bóng ma chủ nghĩa công sản đang ám ảnh Châu âu” trở thành hiện thực đầu tiên trên đất nước Nga - Xô viết mà còn khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản, đưa lịch sử nhân loại bước sang trang mới - thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

 

Cuộc cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi cũng chính là mảnh đất “màu mỡ” diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý cách mạng - con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” và “đây là con đường cứu chúng ta, giải phóng chúng ta”. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong các phong trào công nhân và nhân dân lao động đang phát triển mạnh mẽ ở trong nước, chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân thế giới, ngày 1-5-1925, ở Việt Nam, công nhân Chợ Lớn, công nhân đường sắt Dĩ An và công nhân Đà Nẵng biểu tình bày tỏ ý chí bảo vệ Liên bang Xô viết. Trong cuộc biểu tình đó, nhiều công nhân đã bị bắt và tù đày. Đây cũng chính là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự giao tiếp trong chừng mực giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, một điểm nút chuyển phòng trào công nhân Việt Nam từng bước tự phát đến tự giác.

 

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được những người cộng sản ở Việt Nam nghiên cứu, truyền bá vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước qua sách, báo, đặc biệt là qua trong trào vô sản hoá “cùng ăn, cùng ở, cùng lao động” với công nhân. Từ đó, chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa. Sự ra đời của chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Những văn kiện đầu tiên của Đảng (chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt,..) xác định: Công nông là lực lượng chính của cách mạng, do giai cấp công nhân lãnh đạo, mở rộng đoàn kết với các giai cấp, các tầng lớp và toàn thể dân tộc. Luận cương Chính trị tháng 10-1930 của Đảng tiếp tục cụ thể hoá và nhấn mạnh thêm: “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”. Điều này khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đóng vai trò nòng cốt trong khối liên minh công - nông.

 

Có lý luận cách mạng soi đường, giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam về tay mình, không chia sẻ quyền lãnh đạo cách mạng cho bất kỳ giai cấp nào, đảng phái nào. Giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức quần chúng yêu nước thành mặt trận dân tộc thống nhất, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lơi này đến thắng lợi khác.

 

Tiêu biểu là ngày 1-5-1930, ở các thành phố lớn cũng như các vùng nông thôn rộng lớn của cả nước đã diễn ra các cuộc mít tinh, tuần hành của tầng lớp nhân dân lao động chào mừng ngày Quốc tế Lao động 1-5. Đây là lần đầu tiên, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên phạm vi toàn quốc chứng minh được sứ mệnh trước lịch sử, sức mạnh vô địch, nghị lực phi thường của mình. Là sự khởi đầu để dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cao trào cách mạng (1930-1931), cuộc vận động dân chủ (1936-1939) và cách mạng tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông nam Á - thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin được Nguyễn Ái Quốc vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam.

 

Ngày 1-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố ngày 1-5 là một trong những ngày Quốc tế lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, ngày Quốc tế Lao động 1-5 được tổ chức kỷ niệm trọng thể tại Hà Nội, với 20 vạn nhân dân lao động dự buổi mít tinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi: “Cùng đồng bào toàn quốc! Cùng anh chị em lao động! Ngày 1 tháng 5 là một ngày Tết chung cho cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta, lần này là lần đầu tiên đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để cho thế giới biết rằng: ngày này chẳng những là ngày Tết lao động, mà còn là ngày nhân dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới[3].

 

Khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết, chung sức đồng lòng đưa hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chống thực Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH.

 

Thấy rõ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) của Đảng xác định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời đề ra mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân trong thời gian tới là: Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của gia cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, trí tuệ, phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật caotrình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đảm bảo cho sự toàn thắng của sự nghiệp xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

Phát huy truyền thống tốt đẹp của giai cấp công nhân đã được tôi luyện trong chặng đường lịch sử, trong tư thế người làm chủ đất nước độc lập, tự do và dân chủ hôm nay, giai cấp công nhân Việt Nam sát cánh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng ra sức phấn đấu, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình, góp phần vào thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 

Phạm Thị Nhung

                                                                                                                                    nguồn xaydungdang.org.vn

Toả sáng tinh thần chiến thắng 30 tháng 4

 
 Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 
 (Ảnh tư liệu)

(ĐCSVN) Có những sự kiện lịch sử mà càng có độ lùi về thời gian, qui mô và tầm vóc của nó càng lung linh và hoành tráng. Sự kiện chấm dứt 30 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam là một ví dụ. 36 năm đã qua, sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 càng sáng chói, ngày càng tỏa sáng nhiều ý nghĩa...

Ngày 30 tháng 4 là ngày chiến thắng, ngày cả dân tộc Việt Nam ca khúc khải hoàn. Người Việt Nam, ai từng sống trong những năm tháng chiến tranh, đất nước cắt chia, bom rơi đạn nổ, mong manh sự sống và cái chết, càng thấm thía ý nghĩa của giây phút lá cờ giải phóng tung bay trên dinh Độc Lập, báo hiệu sự cáo chung của chính quyền Sài Gòn và chủ nghĩa thực dân mới xâm lược. Sau 30 năm kháng chiến trường kỳ, hy sinh gian khổ, cái đích mà cả dân tộc phấn đấu hy sinh đã thực sự trở thành hiện thực: Non sông hòa bình, nước nhà thống nhất, nhân dân tự do, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
 
Con đường mà cả dân tộc đã đi qua để có ngày 30 tháng 4, nói một cách hình ảnh, là con đường đầy máu và hoa. Niềm vui vỡ òa, nỗi đau lắng đọng. Vì thế, đối với người Việt Nam, ngày 30 tháng 4 còn mang một ý nghĩa đặc biệt cao cả. Đó là ngày hòa giải và hòa hợp dân tộc. Chiến thắng 30 tháng 4 không của riêng ai. Tất cả người dân Việt Nam đều góp phần làm nên chiến thắng. Nỗi đau cũng không của riêng ai. Tất cả người dân Việt Nam, trực tiếp hay gián tiếp đều chịu nỗi đau, hy sinh mất mát khi nước nhà bị chia cắt, Tổ quốc bị xâm lược. Có người ví cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta như một bản anh hùng ca. Bản anh hùng ca, tất nhiên chứa đựng chất hùng ca và chất bi ca. Người Việt Nam ta đã biết hóa giải bi kịch, xóa bỏ dần mặc cảm và định kiến hẹp hòi để đạt đến sự trọn vẹn, hài hòa, để cả dân tộc hòa hợp dưới mái nhà chung mang tên Dân Tộc Việt Nam. Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, mỗi người dân Việt Nam lại thấy mình càng phải xích lại gần nhau hơn, lại càng thấy giá trị của sự rộng mở hòa giải hòa hợp để cùng hàn gắn vết thương chiến tranh, khép lại quá khứ, cùng hướng tới tương lai tốt đẹp của cả dân tộc.

Ngày 30 tháng 4 là ngày tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Tri ân đồng bào đồng chí thủy chung, son sắt, chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Tri ân nhân dân các nước anh em và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tự do công lý khắp năm châu suốt mấy chục năm đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, cổ vũ và giúp đỡ, đồng cảm và sẻ chia. Ơn đền nghĩa trả, đó là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam ta. Những người chịu nhiều hy sinh mất mát, những người hứng chịu di chứng chiến tranh phải được quan tâm chăm sóc nhiều hơn nữa, bằng nhiều chính sách cụ thể và hiệu quả hơn nữa.

Ngày 30 tháng 4 là ngày vinh danh. Những người có công phải được ghi công và khen thưởng xứng đáng. Vinh danh những anh hùng có tên và những anh hùng vô danh; những người đang sống và những người đã mất; những người có tên tuổi, chức danh và những người vì nhiều lẽ, phải mai danh ẩn tích, nhưng tinh thần yêu nước, sự hy sinh thầm lặng của họ thì vô bờ bến...Ngay trong những ngày kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà này, nhiều cá nhân và đơn vị được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giai đoạn chống Mỹ cứu nước, là một sự vinh danh đầy ý nghĩa.

Nhân dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã làm nên chiến thắng 30 tháng 4. Ngày lịch sử trọng đại này, cả dân tộc càng thấy phải biết phát huy tinh thần chiến thắng, phát huy sức mạnh Việt Nam để có một 30 tháng 4 trong xây dựng đất nước hòa bình, ấm no, hạnh phúc...

                                                                                                                                           nguồn cpv.org.vn

LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH



    Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26/3, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển lớn mạnh của Đoàn trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở.
 
 
    Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta; đồng thời, phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu - Người đã sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn. Được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 - 25/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm. Ngày 26/3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh.
 
 
    Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:
 
 
       •    Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương
 
 
       •    Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
 
 
       •    Từ 11/1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương
 
 
       •    Từ 5/1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam
 
 
      •    Từ 25/10/1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
 
 
      •    Từ 2/1970 - 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
 
 
      •    Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
 
 
    Những thế hệ thanh niên kế tiếp nhau đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì chủ nghĩa xã hội đã liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc và trưởng thành vượt bậc.
 
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh
 
     * LỊCH SỬ TÊN GỌI CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
 
 
     Mỗi chặng đường lịch sử của dân tộc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có những hình thức đấu tranh và những nhiệm vụ đặt lên hàng đầu khác nhau. Với mỗi giai đoạn, tên gọi của Đoàn đã được thay đổi.
 
 
     1.Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
 
 
Tháng 5/1935, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập và sau đó giành được đa số phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 6/1936. Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp. Căn cứ diễn biến tình hình thế giới và trong nước, tháng 7/1936, Hội nghị T.Ư Đảng đã định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.
 
 
Nhiệm vụ của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống. Vì vậy, Đảng chủ trương lập Mặt trận Nhân dân Phản đế sau đổi thành mặt trận Thống nhất Dân chủ. Hội nghị BCH T.Ư Đảng họp tháng 7/1936 đã ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động TN. Theo đó, trong thời kỳ cách mạng từ giữa năm 1936 đến mùa thu năm 1939, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương mang tên Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương phù hợp với nhiệm vụ chính trị qua các nghị quyết của Đảng như trên đã nêu. Đoàn Thanh niên Dân chủ hoạt động công khai, có cơ quan báo chí riêng, đó là các tờ “Bạn dân”, “Thế giới”, “Mới” phát hành ở cả ba miền đất nước. Đoàn đã xây dựng đội ngũ của mình gồm hàng vạn đoàn viên, đấu tranh kiên cường dưới ngọn cờ của Đảng, tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương (1931 – 1935).
 
 
Ngoài việc phát hành báo, tổ chức Đoàn còn lập các Hội đọc sách, Hội văn nghệ, Hội thể thao, đặc biệt là hình thành các nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Nhiều tác phẩm chính trị, văn học của C.Mác. F.Angghen, V.I.Lênin, Goocki… như: “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”, “Tư bản”, “Nhà nước là gì?”, “Người mẹ”… cũng như các cuốn sách do các chiến sĩ cộng sản Việt Nam viết như: “Vấn đề dân cầy” của Qua Ninh và Vân Đình, “Mác xít phổ thông” của Hải Triều và Thơ Tố Hữu được đông đảo đoàn viên, thanh niên hân hoan đón đọc.
 
 
Được sự quan tâm của các Xứ ủy Đảng, phong trào TN và tổ chức Đoàn được củng cố, phát triển sâu rộng, có hệ thống từ cơ sở lên đến tỉnh, thành và xứ.
 
 
Tuy nhiên, đến tháng 9/1939, đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Thực dân Pháp thẳng tay thi hành chính sách đàn áp, khủng bố phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và TN ta. Tổ chức Đoàn phải trở lại hoạt động bí mật.
 
 
     2. Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương
 
 
Tháng 11/1939, T.Ư Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). NQ Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của CMGP dân tộc, là nhiệm vụ hàng đầu của CM Đông Dương. Hội nghị chủ trương lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc ở Đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng.
 
 
Theo chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương mang tên mới là Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương tiếp nối sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức TNCS và TNDC trước đây. Đoàn đã xây dựng được cơ sở ở nông thôn, trong nhà máy và các trường học. Trong tình hình mới, tổ chức Đoàn hoạt động bí mật và được tổ chức chặt chẽ. Những ĐVTN Dân chủ được thử thách, lựa chọn và chuyển thành ĐVTN Phản đế, các hội viên TN trong các tổ chức TN phổ thông được giao những công tác thích hợp để thử thách bồi dưỡng.
 
 
Tháng 9/1940, Phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Từ đây nhân dân Việt Nam một cổ hai tròng, bị hai kẻ thù là phát xít Nhật và thực dân Pháp cùng thống trị. Nhưng nhân dân Việt Nam và thế hệ thanh niên nước ta thời kỳ này không chịu khuất phục: Tháng 9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra; tháng 11/1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ với sự xuất hiện lần đầu tiên lá Cờ đỏ Sao Vàng; tháng 1/1941, nổ ra cuộc binh biến ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lương.
 
 
Các tổ chức Đoàn TN Dân chủ sau đó là Đoàn Thanh niên Phản đế đã vận động thanh niên đi đầu trong các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang từng phần, báo hiệu một thời kỳ mới: chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
 
 
     3. Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam
 
 
Tháng 11/1940, Hội nghị TƯ Đảng lần thứ 7 họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) trong đó có phần nói về: “Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng”. Nghị quyết hội nghị ghi: “Vì chính sách của Đảng ta hiện tại là chính sách cứu quốc cho nên mục đích các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu…… Việt Nam thanh niên Cứu quốc từ nay là đoàn thể của tất thảy thanh niên từ 18 đến 22 tuổi muốn tranh đấu đánh Pháp, đuổi Nhật”.
 
 
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc bí mật về nước để cùng Ban chấp hành TW Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đây là sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta…
 
 
Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của TƯ Đảng họp tại Pắc Bó (Cao Bằng) do Nguyễn ái Quốc, đại diện của Quốc tế cộng sản triệu tập và chủ trì. Hội nghị đã nêu một quyết tâm sắt đá: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
 
 
Để tập hợp động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (Gọi tắt là Việt Minh) và các Hội cứu quốc, trong đó có: Đoàn Thanh niên Cứu quốc - Việt Nam - một tổ chức của những thanh niên yêu nước tiếp nối sự nghiệp của các tổ chức thanh niên do Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sáng lập và lãnh đạo trước đó.
 
 
Hội nghị TƯ Đảng lần thứ 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn. Hội nghị đã hoàn thành việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ mới. Hội nghị đã nêu rõ vai trò, trách nhiệm của Đoàn TN Cứu quốc trong cao trào đấu tranh của giải phóng dân tộc. Trong suốt chặng đường dài từ 1941 – 1956, Đoàn TNCQ Việt Nam đã đóng góp to lớn, kể cả hy sinh xương máu, cùng dân tộc vùng dậy trong Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước Dân chủ, cộng hòa - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á. Tháng 2/1950, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam được triệu tập tại căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc. Đây là Đại hội đại biểu toàn quốc đầu tiên của Đoàn, gồm trên 400 đại biểu của ba miền đất nước. Sau đó, Đoàn đã vận động đoàn viên, TN đi tiếp chặng đường hơn 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh góp phần xứng đáng làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu, giải phóng hoàn toàn miền Bắc (7/1954), bắt tay xây dựng hậu phương lớn XHCN ở miền Bắc, chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam.
 
 
     4 - Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
 
 
Tháng 7/1954, hòa bình đợc lập lại trên miền Bắc, căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ Chính trị T.Ư Đảng trong phiên họp tháng 9/1954 đã chủ trơng đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam thành Đoàn TNLĐ Việt Nam và xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam thành một tổ chức thực sự có tác dụng là lực lợng dự trữ và cánh tay của Đảng.
 
 
Quyết nghị có đoạn viết: “Đảng ta là Đảng Lao động Việt Nam. Việc Đoàn TNCQ Việt Nam đổi tên thành Đoàn TNLĐ Việt Nam sẽ làm cho thanh niên thêm phấn khởi, thêm gắn bó với Đảng và do đó càng quyết tâm phấn đấu đến cùng dới ngọn cờ của Đảng”.
 
 
Trong “Quyết nghị về đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam thành Đoàn TNLĐ Việt Nam và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam” (Ban Bí th T.Ư - ngày 19/10/1955) đã nêu rõ tính chất, nhiệm vụ, vấn đề tổ chức và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam.
 
 
Về tính chất của Đoàn TNLĐ Việt Nam, Quyết nghị nêu: “Đoàn TNLĐ Việt Nam là một tổ chức quần chúng tiên tiến của TN Việt Nam, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Đoàn TNLĐ Việt Nam là trờng học của chủ nghĩa Mác-Lênin của thanh niên, là nơi bồi dỡng lực lợng dự trữ của Đảng, là cánh tay thực hiện mọi chính sách của Đảng”. Quyết nghị của Đảng đã vạch rõ nhiệm vụ của Đoàn trong thời kỳ mới và đề ra kế hoạch xây dựng Đoàn là:
 
1. Đảm bảo tính chất tiên tiến của Đoàn… Không kết nạp ồ ạt và tập thể. Nơi nào chưa có đủ điều kiện đổi tên Đoàn thì chưa đổi.
 
 
2. Làm cho ĐVTN có một nhận thức đúng đắn về Đoàn TNLĐ Việt Nam. Việc kết nạp đoàn viên hoặc đổi tên Đoàn phải trên cơ sở tự nguyện, tự giác của TN.
 
 
3. Kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện những nhiệm vụ công tác chính trớc mắt do Đảng đề ra… Việc xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam cần làm một cách có lãnh đạo và có kế hoạch cụ thể cho từng vùng…”.
 
 
Quyết nghị nêu kết luận: “Việc đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam thành Đoàn TNLĐ Việt Nam là một việc rất quan trọng có ảnh hởng đến việc xây dựng một phong trào thanh niên lớn mạnh trong toàn quốc, đến việc phát triển cơ sở Đảng trong quần chúng lao động và việc hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng hiện nay. Các cấp ủy Đảng cần nắm vững đờng lối vận động thanh niên của Đảng, trực tiếp lãnh đạo thực hiện nghị quyết này”.
 
 
     5 - Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh
 
 
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người sáng lập rèn luyện Đoàn ta qua đời. Toàn thể cán bộ, ĐVTN và đội viên thiếu niên, nhi đồng nước ta vĩnh biệt Người với nỗi xót thương vô hạn. Bác Hồ và Đảng đã coi sự trưởng thành của lớp thanh niên nước ta là một trong những thành quả vĩ đại của cách mạng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau.
 
 
Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam, nhân dịp kỉ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1970), BCH T.Ư Đảng đã ra Nghị quyết cho Đoàn Thanh niên và đội thiếu niên, Đội Nhi đồng được mang tên Bác.
 
 
Nghị quyết nêu rõ: “… Thể theo nguyện vọng của thế hệ trẻ nước ta và đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam”. BCH T.Ư Đảng Lao động Việt Nam Quyết định:
 
 
- Đoàn TNLĐ Việt Nam nay là Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh
 
 
- Đội TNTP Việt Nam nay là Đội TNTP Hồ Chí Minh
 
 
- Đội Nhi đồng Việt Nam nay là Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh
 
 
Tổ chức Đoàn và tổ chức đội được mang tên Bác là vinh dự lớn lao, đồng thời là trách nhiệm nặng nề trước Tổ quốc và nhân dân. Đoàn ta được mang tên Bác Hồ càng làm rõ mục đích và tính chất của Đoàn là đội tiên phong chiến đấu của TN, đi đầu phấn đấu cho lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng và Bác Hồ là độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
 
 
     6. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
 
 
Tháng 4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
 
 
Ngày 26/3/1976, Lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Tại Lễ kỷ niệm này, tổ chức Đoàn trong cả nước đã thống nhất mang tên chung là Đoàn Thanh Niên Lao động Hồ Chí Minh.
 
 
Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến 20/12/1976 tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đổi tên đảng Lao động Việt Nam (2-1951) thành Đảng Cộng Sản Việt Nam và thể theo nguyện vọng của cán bộ, ĐVTN cả nước, Đại hội Đảng lần thứ IV đã quyết định đổi tên Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh (1970) thành: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
 
 
Đại hội Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn mới là: “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải được xây dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học CSCN của lớp người trẻ tuổi, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng”.
 
 
Được mang tên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là vinh dự và tự hào lớn của toàn thể cán bộ đoàn viên nước ta.
 


BBT

 

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     nguồn http://doanthanhnien.vn/

Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3

Trong một thế kỷ qua, người phụ nữ đã giành được sự bình đẳng trước pháp luật trong hầu hết các nước trên thế giới. Tuy thế, hiện nay phụ nữ vẫn còn tiếp tục tranh đấu ở nhiều nơi. Ngày Quốc tế Phụ nữ, được Liên Hiệp Quốc chính thức hóa vào ngày 8 tháng 3 năm 1977. Ngày này cho chúng ta nhớ lại những thành quả đó và cũng để ta suy nghĩ về hoàn cảnh của người phụ nữ trên toàn thế giới .

Nguồn gốc


Ngày Phụ Nữ Quốc tế cũng như những ngày lễ tượng trưng khác, không phải có một nguồn gốc hay một sự việc duy nhất, mà là thành quả của biết bao là đấu tranh và cũng là cuộc hành trình lặng lẽ của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. 
Thời cổ Hy Lạp, Lysistrata bắt đầu cho cuộc tranh đấu chống lại nam giới để chấm dứt chiến tranh. 

Lịch sử của ngày Quốc Tế Phụ nữ bắt đầu từ năm 1857 đến 1911. 
Ngày 8 tháng 3 năm 1857 các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại New York: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng Ba, các nữ công nhân Mỹ trong hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên để được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.
Năm mươi năm sau, ngày 8 tháng 3 năm 1908, 15.000 phụ nữ diễn hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ "Bread and Roses". Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, Hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn. 
Sau đó, đảng Xã hội Mỹ tuyên bố ngày Quốc tế phụ nữ ngày 28 tháng 02 năm 1909
Phụ nữ cử hành lễ này vào ngày chúa nhật cuối của tháng 2 cho tới năm 1913 

Trong buổi họp mặt Quốc tế, kỳ thứ II các Phụ nữ đảng xã hội, 8 tháng 3 năm 1910 ,100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữnữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị thành lập một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những người nữ đã đầu tranh trên toàn thế giới. Do đó, buổi họp đã chọn ngày 19 tháng 3 năm 1911 để làm ngày phụ nữ quốc tế. Ngày này đã được hơn một triệu người tham gia trong các nước Áo, Ðan mạch, Ðức và Thụy sĩ.
Không đầy một tuần sau, ngày 25 tháng 3 năm 1911, 145 nữ công nhân, phần lớn là di dân Ái nhĩ lan và Do thái của hãng Triangle Shirtwaist Company tại New York đã chết trong một vụ cháy trong xưởng dệt. Họ không có ngõ thoát ra ngoài được: cửa xưởng đã được khóa chặt để công nhân không được ra ngoài trước khi hết giờ làm việc (Ðiều này đã thúc đẩy việc sửa đổi luật lệ lao động).
80.000 người diễn hành trong các đường phố đễ đưa đám tang lớn của 145 nạn nhân chết cháy

Một năm sau, 1912, 14.000 công nhân hãng dệt đình công và la lớn "Better to starve fighting than starve working" (Chết đói vì chiến đấu hơn chết vì làm việc). Nữ công nhân nghỉ việc 3 tháng.
Sự can đảm của họ đã làm cảm hứng bài Bred and Roses, bài này thường đi hát trong ngày Quốc tế Phụ nữ.

Năm 1912, nhà thơ Mỹ James Oppenheim (1882 - 1932) viết bài thơ Bread and Roses sau lần diễn hành 14.000 đình công tại Lawrence, Massachusetts. 


8 tháng 3 năm 1914
Phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử nhưng đến ngày 12 tháng 10 năm 1918 mới được chấp thuận.
Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, nhằm ngày 8 tháng 3 dương lịch các nữ công nhân Nga đã ra đường biểu tình đình công, đòi bánh mì và đòi trả chồng con họ trờ về từ chiến trận. Cuộc đình công này đã khiến Sa hoàng Nicolas đệ nhị phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng tháng 10 ở Nga. 
21 tháng 4 năm 1944 Quốc hội Pháp chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ Pháp. Phụ nữ Pháp đã đi bầu hội đồng thành phố lần đầu tiên vào ngày 20 tháng Tư năm 1945. Trong lúc đó đàn ông Pháp đã được đi bầu từ năm 1848 tức là từ một thế kỷ trước 8 tháng 3 năm 1948, tại nước Pháp, 100.000 phụ nữ đã tổ chức một cuộc diễn hành tại Paris, từ Place de la République đến tượng Jeanne d’Arc

Từ năm 1950 tại Việt Nam, vào ngày mùng 6 tháng hai âm lịch mỗi năm đều có tổ chức ngày lễ Hai Bà Trưng ở Sài gòn, và sau đó đã dùng ngày lễ này làm ngày Phụ nữ. Mỗi năm dều chọn một nữ sinh trường Trưng Vương và một nữ sinh trường Gia Long đóng vai Hai Bà Trưng ngồi trên bành voi trong dịp cử hành lễ.
1971, Thụy Sĩ chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ. 
8 tháng 3 1975, Liên Hiệp quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ 
Năm 1977, nghĩa là hai năm sau ngày Quốc tế Phụ nữ, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. 
Ngày 8 tháng 3 trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia.

Nguồn: Vietsciences Võ Thị Diệu

TRƯỜNG THPT QUỐC TRÍ
Địa Chỉ : 313 Nguyễn Văn Luông, P12, Q6, Tp.HCM
Điện Thoại : (08) 37515213 - 37515179
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.