Kỷ niệm Ngày thế giới phòng chống AIDS

Nhân ngày thế giời phòng chống HIV/AIDS (1/12), hãy hướng về con số biết nói tại VN (UNAIDS). Theo thống kê của Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS tại VN, Tính đến cuối năm 2013, toàn thế giới có khoảng 35 triệu người nhiễm HIV, ở Việt Nam có khoảng 256.000 người nhiễm HIV. Trong đó, trên toàn thế giới có 2,1 triệu người lớn và 240 ngàn trẻ em mới nhiễm HIV, ở Việt Nam, đã phát hiện gần 8.500 ca nhiễm HIV mới trong 9 tháng đầu năm 2014. Đồng thời, đã cướp đi mạng sống của hơn 1,5 triệu người trên toàn thế giới do AIDS. Riêng Việt Nam, hơn 1.500 người đã tử vong do AIDS trong 9 tháng đầu năm 2014. Mặc dù, trong năm 2013 trên toàn thế giới có khoảng 12,9 triệu người nhiễm HIV được điều trị kháng vi-rút, chiếm 37% tổng số người nhiễm HIV. Tuy nhiên, mới chỉ có 24% trẻ em nhiễm HIV được điều trị để kéo dài cuộc sống. Ở Việt Nam, tính đến 9 tháng đầu năm 2014 có gần 89.000 người nhiễm HIV đang được điều trị kháng vi-rút, chiếm 36% tổng số người nhiễm HIV. Đã có gần 4.500 em nhỏ được điều trị kháng vi-rút, chiếm hơn 90% số trẻ em nhiễm HIV.

Kỷ niệm Ngày thế giới phòng chống AIDS

Theo bà Michel Sidibé, phó Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, kiêm Giám đốc điều hành UNAIDS, chia sẻ: “Vào ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, chúng ta hãy cùng tưởng nhớ những người đã thiệt mạng vì vi-rút Ebola, và nghĩ đến những quốc gia Tây Phi và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Ebola ở các quốc gia này. Dịch Ebola khiến chúng ta liên tưởng đến thời kỳ đầu bùng phát dịch AIDS. Mọi người cũng sợ hãi và chốn tránh. Kỳ thị và phân biệt đối xử cũng lan tràn. Thuốc điều trị cũng không có và chỉ le lói một chút hy vọng”. Theo đó, cùng nhau bỏ lại phía sau thời kỳ đen tối của dịch AIDS và mở ra một giai đoạn mới với cơ hội mới, nhờ tình đoàn kết và tinh thần sẻ chia của tất cả các quốc gia, nhờ huy động sự tham gia của toàn xã hội, nhờ vai trò tích cực của các tổ chức xã hội và cộng đồng. Chúng ta đã phá bỏ được sự im lặng bao che cho HIV hoành hành, giảm được giá thuốc điều trị và chặn được sự lan tràn của dịch AIDS. Những nỗ lực này đã cứu sống được hàng triệu người.

                                                                                              nguồn vitalk.vn

Lịch sử ngày 20/10-Ngày Phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.

Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai...

Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:

- Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.

- Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.

- Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.

- Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.

- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỉ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là "Ngày Phụ nữ Việt Nam".

Kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2 tháng 9 (1945-2014)

 
Hàng năm vào những ngày tháng Tám và đầu tháng chín, mỗi người dân Việt nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hay ở xa Tổ quốc đều bồi hồi nhớ lại cuộc Cách mạng mùa thu năm 1945 và Quốc khánh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 2 tháng 9 với niềm tự hào sâu sắc nhất.
 
Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước Việt Nam diễn ra từ ngày 15 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945 và thành công ở Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 đã đưa nước Việt Nam đi lên một vị trí mới, một tầm vóc mới, một thế đứng mới. Đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạnh dân tộc dân chủ nhân dân điển hình này: “ Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và nhân dân những dân tộc bị áp bức những nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần đầu tiên trong lịch sử Cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc “
 
Cuộc mit tinh phát động khởi nghĩa dành chính quyền tại
nhà hát lớn Hà Nội ngày 19/8/1945
 
 Trong quá trình Cách mạng thế giới chưa có một cuộc Cách mạng nào mở ra ngoạn mục đến như thế. Mọi diễn biến đều ăn khớp nhịp nhàng như một bản thiết kế đã vạch sẵn. Cả một dân tộc nổi dậy vào thời cơ tốt nhất, giành thắng lợi nhanh nhất; Hàng chục triệu quần chúng từ Nam ra Bắc không chịu nổi ách thống trị, áp bức tàn bạo của kẻ thù, một lòng một dạ đi theo đội tiên phong nhất tề nổi dậy như vũ bão, tạo ra sự phát triển nhảy vọt của Cách mạng cả về chính trị lẫn quân sự, trên cả hai phương tiện thế và lực…
 
Cách mạng tháng 8 thành công xem bề ngoài tưởng như tự phát nhưng thực sự là cuộc khởi nghĩa có trình độ tự giác cao. Cách mạng tháng 8 thành công không những thu hút đông đảo quần chúng công, nông mà còn lôi cuốn các tầng lớp khác như: tiểu tư sản và một bộ phận giai cấp tư sản ở thành thị, phú nông và một số địa chủ yêu nước ở nông thôn, nhiều nhân sĩ, trí thức thuộc các tầng lớp trên tán thành Cách mạng hoặc ít ra cũng trung lập có lợi cho Cách mạng.
 
Cách mạng tháng 8 là ngày hội của quần chúng là cả một quá trình chuẩn bị công phu của Cách mạng và sự lãnh đạo tài tình của Đảng và bác Hồ kính yêu. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên một Nhà nước công nông thành lập ở Việt Nam.
 
Mặc dù vẫn còn những tiếng súng gây rối của kẻ thù nhưng với khí thế sục sôi của quần chúng trong ngày thắng lợi của cách mạng tháng 8, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình- Hà Nội, trước cuộc mít tinh của hơn 50 vạn nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới về nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời: “ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”
                       
Chủ tịch Hồ Chí minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945
 
Bản tuyên ngôn độc lập là những đúc kết từ truyền thống tinh hoa, anh hùng tự cường, bất khuất của dân tộc. Đó là tiếng nói của dân tộc Việt Nam. Ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội và đã trở thành ngày Quốc khánh nước Việt nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Bên cạnh những thành tựu lớn và vận hội mới của đất nước Đảng bộ, quân và dân thành phố Vũng tàu nêu cao hơn nữa những thành tích đã đạt được trong truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; Đồng sức đồng lòng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Phấn đấu không ngừng, ra sức thi đua thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng thành phố Vũng tàu ngày càng giàu đẹp, văn minh.
 
Bài: Hoàng Yến
BBT.
theo vungtau.baria-vungtau.gov.vn

Kỷ niệm 67 năm Ngày Thương binh liệt sĩ 27-7 (1947-2014)

Đền ơn người có công là cách tốt nhất giáo dục lòng yêu nước

 

(Cadn.com.vn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đền ơn đáp nghĩa người có công với nước là cách tốt nhất giáo dục lòng yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.  Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Bác Hồ đã chú trọng xây dựng và chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách về thương binh, liệt sĩ, những người có công trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tình cảm đặc biệt cho thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Bác căn dặn:  Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh". Đối với các liệt sĩ mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ,vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Cán bộ, nhân dân viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Những lời căn dặn cuối cùng của Bác đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình họ thấm đượm sâu sắc truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước, trực tiếp lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh và gia đình liệt sĩ. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước lúc đi xa, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư, tặng quà tới thương binh và gia đình liệt sĩ.

Trong giáo dục lòng yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ "ăn quả phải nhớ người trồng cây", phải chăm lo đền ơn thương binh, liệt sĩ, họ là những người vì Tổ quốc và vì hạnh phúc của nhân dân mà đã anh dũng hy sinh, cống hiến máu xương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do. Trong cuộc sống và hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất của lãnh đạo Đảng và Nhà nước luôn chăm sóc thương binh, liệt sĩ. Dù bận nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành cho thương binh, bệnh binh những tình cảm yêu thương, quý trọng vô cùng sâu nặng.

Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, sau các chiến dịch, chỉ đạo việc quân, việc nước Bác Hồ thường quan tâm chăm sóc thương bệnh binh. Đến các nơi chữa bệnh, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, Người ân cần thăm hỏi, động viên và tặng quà từ tiền lương và tiền tiết kiệm, đồ dùng cá nhân của mình để thêm phần chăm lo cho thương bệnh binh. Bác khích lệ thương binh bằng nhiều cách như nêu gương, biểu dương, khuyến khích, tặng huy hiệu của Người cho những thương binh khắc phục đau yếu, thương tật  "tàn nhưng không phế", có nghị lực vươn lên trong cuộc sống và động viên anh, chị em thương bệnh binh dù suy giảm sức khỏe mà vẫn cố gắng học tập, làm việc, cống hiến cho xã hội. Người còn căn dặn các thương bệnh binh phải khiêm nhường, phải tỏ lòng biết ơn sự chăm sóc của đồng bào, đồng chí, không được ra vẻ công thần mà cần cố gắng tự lực cánh sinh...                                                         

67 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn "Ngày thương binh" và 39 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã ra sức thực hiện Di chúc của Bác đối với thương binh, liệt sĩ và các gia đình chính sách. Trong sự nghiệp ĐỔI MỚI, Đảng và Nhà nước cũng có nhiều chính sách mới đối với thương binh, liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Trong những  chính sách về người có công của Đảng và Nhà nước thì Pháp lệnh về người có công được thực hiện đã phát huy cao độ truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", giáo dục sâu sắc lòng yêu nước, huy động các tầng lớp trong xã hội tham gia nhiều phong trào đền ơn đáp nghĩa người có công.

Quỹ đền ơn đáp nghĩa ra đời khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh người có công năm 1994 đến nay số tiền do nhân dân đóng góp lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Cùng với những chính sách của Nhà nước, Quỹ đền ơn đáp nghĩa góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống người có công. Các bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được nhận phụng dưỡng suốt đời. Hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa được xây mới. Nhiều phong trào có ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện tình cảm biết ơn vô hạn của đồng bào, chiến sĩ với thương binh như tặng sổ tiết kiệm, vườn cây "đền ơn đáp nghĩa", trở lại chiến trường xưa để tìm mộ liệt sĩ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, xây đài tưởng niệm, tổ chức các buổi lễ cầu siêu cho hương hồn các anh hùng liệt sĩ ở Quảng Trị, Côn Đảo, Phú Quốc, đường Trường Sơn, Bến Được, Củ Chi, ngã ba Đồng Lộc... đã thu hút sự quan tâm của đồng bào, lực lượng vũ trang và góp phần giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc cho toàn dân.

Vào dịp kỷ niệm  Ngày thương binh liệt sĩ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã có những việc làm tri ân người có công với những hình thức thiết thực, phù hợp hoàn cảnh các đối tượng nhằm nâng cao mức sống người có công cả vật chất và tinh thần, tình cảm.                                             

Bốn mươi lăm năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người có công, chúng ta nhận thấy rằng chính sách đối với người có công có vai trò quan trọng trong dựng nước và giữ nước. Làm tốt chính sách với người có công không chỉ là đền ơn đáp nghĩa, phát huy truyền thống, đạo lý nhân văn của dân tộc mà còn có ý nghĩa vô cùng sâu sắc là "đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta" mà Bác Hồ đã viết trong Di chúc. Sau gần 30 năm đổi mới, mặc dù chúng ta cố gắng rất nhiều thực hiện chính sách người có công nhưng cả nước vẫn còn hàng chục nghìn hộ gia đình chính sách đang sống trong những ngôi nhà tạm, đời sống hàng ngày của các gia đình này còn nhiều khó khăn,vất vả, thiếu thốn về vật chất và tinh thần.

Để thiết thực chăm lo cho những gia đình này, chúng ta cần có những việc làm hưởng ứng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là phấn đấu đưa mức sống của người có công cao hơn mức sống trung bình của xã hội, thiết thực và chủ động hưởng ứng Chương trình hành động của Bộ LĐ-TB & XH chăm sóc người có công, huy động các tầng lớp nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc  các cấp và các đoàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội ...ủng hộ, giúp đỡ để cải thiện một bước căn bản đời sống người có công, sớm phấn đấu để không còn hộ gia đình chính sách thuộc diện nghèo, hơn 90% số hộ gia đình có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình. Trong những năm tới các cấp, các địa phương cần thực hiện chủ trương rà soát lại các chính sách, chế độ đối với người có công để bổ sung, hoàn thiện các chính sách đồng thời khắc phục những sai sót trong thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước.

T.S Phạm Văn Khánh

nguồn cadn.com.vn

Tinh thần Ngày Quốc tế Lao động 1-5 với cách mạng Việt Nam




Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ XIX đã làm đảo lộn một phần xã hội Tây Âu, đưa xã hội ấy từ “đêm trường trung cổ” ra ánh sáng của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, máy móc kỹ thuật hiện đại ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và cùng với nó là sự xuất hiện của giai cấp vô sản - giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất trong lịch sử. Song máy móc càng tiên tiến thì mức lương của giai cấp công nhân càng giảm và “bất cứ lúc nào công nhân cũng thấy giai cấp tư sản coi họ là đồ vật, là tài sản của chúng, chỉ một điểm này cũng đủ làm cho công nhân trở thành kẻ thù của giai cấp tư sản”[1]. Mâu thuẫn trên lĩnh vực kinh tế dẫn đến mâu thuẫn trên lĩnh vự xã hội, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản là điều tất yếu. Vì vậy, ngay từ khi mới ra đời giai cấp công nhân đã tiến hành những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản. Những cuộc đấu tranh ban đầu diễn ra lẻ tẻ và mang tính tự phát vì mục đích kinh tế, do thiếu một lý luận cách mạng và một tổ chức tiên phong lãnh đạo nên đều thất bại. Chính sự phát triển của phong trào công nhân đặt ra đòi hỏi phải có lý luận tiên tiến dẫn đường để tổ chức, giáo dục, giác ngộ giai cấp công nhân về sứ mệnh lịch sử của mình, để vạch cho giai cấp công nhân đường lối và phương pháp cách mạng khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được đòi hỏi của phong trào công nhân lời kêu gọi “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại” làm phương châm đấu tranh cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

 

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân bất đầu từ nước Mỹ - quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới. Mỹ đã lao vào cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản với điển hình là thành phố Chi-ca-gô - trung tâm thương nghiệp của Mỹ. Nhà tư bản đã cho các guồng máy ở đây chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn công nhân bị bắt buộc làm việc mỗi ngày từ 14 đến 18 giờ, phụ nữ quần quật lao động không kém gì nam giới, nhưng đồng lương chỉ bằng ½ nam giới và suốt suốt tuần không có ngày nghỉ; trẻ em phải làm việc 12 giờ/ngày. Đây chính là nguyên nhân diễn ra phong trào bãi công của công nhân Bắc Mỹ, châu Âu bùng lên, đòi nhà tư bản phải tăng lương, giảm giờ làm với khẩu hiệu chung là “8 giờ làm việc, 9 giờ học tập, 8 giờ nghỉ ngơi trong một ngày”.

 

Tại thành phố Chi-ca-gô, ngày 1-5-1886, hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, công nhân toàn thành phố tiến hành bãi công, tổ chức mít tinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày không đến nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng nói chung của giai cấp công nhân, chính quyền tư sản rơi vào thế bị động. Ngày 3-5, hơn 6 ngàn công nhân tổ chức mít tinh, tên chủ tư bản ngoan cố không trả lời yêu sách của công nhân, cho đóng cửa nhà máy và những người bãi công phản đối, bị cảnh sát đàn áp, 9 công nhân bị giết, 50 bị thương nặng, gây chấn động thành phố. Ngày 4-5, một cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra ở quãng trường Hay-mác-két để phản kháng hành động của cảnh sát. Bọn chủ dùng thủ đoạn xảo trá cho tay chân ném một quả bom làm chết 7 cảnh sát, 4 công nhân và nhiều người bị thương. Lấy cớ đó chính quyền mở cuộc khủng bố lớn, hơn 200 người chết và bị thương, nhà tù chật ních những người tham gia đấu tranh. 

 

Vụ tàn sát đẫm máu trên gây nên chấn động lớn trong giai cấp công nhân thế giới. Ở Mỹ nhiều cuộc biểu tình lớn nổ ra tại các thành phố, lên tiếng ủng hộ yêu sách của công nhân Chi-ca-gô. Công nhân Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan… tổ chức nhiều cuộc mít tinh bày tỏ sự đồng tình với công nhân Mỹ. Ngày 1-5-1886 đã ghi một bước thắng lợi, có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp công nhân trong quá trình thống nhất đấu tranh giành quyền lợi của mình. Ngày 11-11-1887, các thủ lĩnh của cuộc đấu tranh ngày 1-5-1886 đều bị chính quyền treo cổ. Tuy vậy, chính phủ buộc phải ban hành đạo luật ngày làm 8 giờ.

 

Để biểu dương tinh thần đoàn kết của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới, ngày 14-5-1889, tại Paris nước Pháp, Đại hội quốc tế thứ II được tổ chức, dưới sự chỉ đạo của Ph.Ăngghen đã thông qua Nghị quyết lấy ngày 1-5 - ngày đấu tranh thắng lợi của công nhân Chi-ca-gô năm 1886 làm ngày Quốc tế Lao động.

 

Thực hiện nghị quyết của Quốc tế thứ II, vào ngày 1-5-1890 lần đầu tiên ngày Quốc tế lao động được kỷ niệm trên quy mô thế giới. Giai cấp công nhân ở các nước Mỹ, Ca-na-đa, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý và nhiều nước khác tiến hành bãi công, mít tinh, biểu tình. Hàng ngàn công nhân Pra-ha xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “ngày làm 8 giờ”, thể hiện tinh thần “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.

 

 

Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, Mác-Ăngghen không chỉ trang bị lý luận cách mạng cho giai cấp công nhân còn chỉ ra con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử của họ là phải có đảng tiên tiến lãnh đạo. Vì vậy, khi chủ nghĩa Mác ra đời đã được một bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân tiếp thu, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân, giáo dục, giác ngộ và tổ chức công nhân đấu tranh và trong các cuộc đấu tranh ấy, các Đảng Cộng sản đã lần lượt ra đời. Điều đó chứng tỏ, chủ nghĩa Mác ra đời đã nhanh chóng thâm nhập vào phong trào công nhân, trở thành hệ tư tưởng, vũ khí lý luận của giai cấp công nhân. Mặt khác, thông qua phong trào công nhân chủ nghĩa Mác được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện.

 

Tiếp thu, kế tục sự nghiệp cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen, người học trò xuất sắc V.I. Lênin đã vận dụng sáng tạo, phát triển học thuyết Mác-Ănghen vào điều kiện lịch sử mới ở nước Nga. Lênin cho rằng “giai cấp công nhân Nga phải nắm lấy ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản làm “cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới” và thắng lợi hoàn toàn của cách mạng hiện đại sẽ đánh dấu bước kết thúc của cách mạng dân chủ và mở đầu một cuộc đấu tranh kiên quyết cho chủ nghĩa xã hội[2]. Cuộc cách mạng Tháng Mười vĩ đại năm 1917, không chỉ đưa “bóng ma chủ nghĩa công sản đang ám ảnh Châu âu” trở thành hiện thực đầu tiên trên đất nước Nga - Xô viết mà còn khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản, đưa lịch sử nhân loại bước sang trang mới - thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

 

Cuộc cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi cũng chính là mảnh đất “màu mỡ” diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý cách mạng - con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” và “đây là con đường cứu chúng ta, giải phóng chúng ta”. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong các phong trào công nhân và nhân dân lao động đang phát triển mạnh mẽ ở trong nước, chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân thế giới, ngày 1-5-1925, ở Việt Nam, công nhân Chợ Lớn, công nhân đường sắt Dĩ An và công nhân Đà Nẵng biểu tình bày tỏ ý chí bảo vệ Liên bang Xô viết. Trong cuộc biểu tình đó, nhiều công nhân đã bị bắt và tù đày. Đây cũng chính là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự giao tiếp trong chừng mực giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, một điểm nút chuyển phòng trào công nhân Việt Nam từng bước tự phát đến tự giác.

 

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được những người cộng sản ở Việt Nam nghiên cứu, truyền bá vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước qua sách, báo, đặc biệt là qua trong trào vô sản hoá “cùng ăn, cùng ở, cùng lao động” với công nhân. Từ đó, chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa. Sự ra đời của chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Những văn kiện đầu tiên của Đảng (chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt,..) xác định: Công nông là lực lượng chính của cách mạng, do giai cấp công nhân lãnh đạo, mở rộng đoàn kết với các giai cấp, các tầng lớp và toàn thể dân tộc. Luận cương Chính trị tháng 10-1930 của Đảng tiếp tục cụ thể hoá và nhấn mạnh thêm: “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”. Điều này khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đóng vai trò nòng cốt trong khối liên minh công - nông.

 

Có lý luận cách mạng soi đường, giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam về tay mình, không chia sẻ quyền lãnh đạo cách mạng cho bất kỳ giai cấp nào, đảng phái nào. Giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức quần chúng yêu nước thành mặt trận dân tộc thống nhất, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lơi này đến thắng lợi khác.

 

Tiêu biểu là ngày 1-5-1930, ở các thành phố lớn cũng như các vùng nông thôn rộng lớn của cả nước đã diễn ra các cuộc mít tinh, tuần hành của tầng lớp nhân dân lao động chào mừng ngày Quốc tế Lao động 1-5. Đây là lần đầu tiên, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên phạm vi toàn quốc chứng minh được sứ mệnh trước lịch sử, sức mạnh vô địch, nghị lực phi thường của mình. Là sự khởi đầu để dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cao trào cách mạng (1930-1931), cuộc vận động dân chủ (1936-1939) và cách mạng tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông nam Á - thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin được Nguyễn Ái Quốc vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam.

 

Ngày 1-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố ngày 1-5 là một trong những ngày Quốc tế lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, ngày Quốc tế Lao động 1-5 được tổ chức kỷ niệm trọng thể tại Hà Nội, với 20 vạn nhân dân lao động dự buổi mít tinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi: “Cùng đồng bào toàn quốc! Cùng anh chị em lao động! Ngày 1 tháng 5 là một ngày Tết chung cho cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta, lần này là lần đầu tiên đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để cho thế giới biết rằng: ngày này chẳng những là ngày Tết lao động, mà còn là ngày nhân dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới[3].

 

Khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết, chung sức đồng lòng đưa hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chống thực Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH.

 

Thấy rõ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) của Đảng xác định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời đề ra mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân trong thời gian tới là: Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của gia cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, trí tuệ, phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật caotrình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đảm bảo cho sự toàn thắng của sự nghiệp xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

Phát huy truyền thống tốt đẹp của giai cấp công nhân đã được tôi luyện trong chặng đường lịch sử, trong tư thế người làm chủ đất nước độc lập, tự do và dân chủ hôm nay, giai cấp công nhân Việt Nam sát cánh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng ra sức phấn đấu, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình, góp phần vào thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 

Phạm Thị Nhung

                                                                                                                                    nguồn xaydungdang.org.vn

TRƯỜNG THPT QUỐC TRÍ
Địa Chỉ : 313 Nguyễn Văn Luông, P12, Q6, Tp.HCM
Điện Thoại : (08) 37515213 - 37515179
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.